Hiện không phải là lúc đặt thêm các khoản thu bất hợp lý, thiếu minh bạch, gây khó cho doanh nghiệp.



Trong giai đoạn khó khăn hiện nay, doanh nghiệp rất cần được hỗ trợ và tránh những quy định gây khó đối với sản xuất, kinh doanh Ảnh: Đ.T

Có thể gọi đúng là phí để minh bạch?

Thất vọng là điều mà ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nhấn mạnh khi nhắc đến Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

“Tại sao ở thời điểm này, khi doanh nghiệp gần như đã kiệt sức, khi Chính phủ liên tục cam kết không tạo thêm khó khăn, không tăng thêm chi phí cho doanh nghiệp…, mà các bộ, ngành vẫn có thể đề xuất những khoản thu với cách tính có quá nhiều điểm bất hợp lý, thiếu minh bạch?”, ông Nam đặt vấn đề khi trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư.

Khoản thu mà ông Nam nhắc đến là khoản “đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam”, quy định tại Điều 88 của Dự thảo. Cùng với đó, Văn phòng Thực hiện trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu Việt Nam (EPR) sẽ được thành lập để quản lý quỹ này.

Cuối tháng 8/2021, trong cuộc hội thảo về Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, các hiệp hội doanh nghiệp đã nêu vấn đề này vì cho rằng, với ý nghĩa bắt buộc của khoản đóng góp, thì đây là một khoản phí, tương tự như phí bảo vệ môi trường đối với xăng dầu hay với khai thác khoáng sản và cần được quản lý theo quy định pháp luật về phí.

Khi đó, đại diện của Bộ Tài nguyên và Môi trường giải thích, khoản đóng góp theo Dự thảo không đáp ứng định nghĩa phí trong Luật Quản lý phí, lệ phí, vì không có đơn vị cung cấp dịch vụ công. Hơn thế, nếu gọi là phí thì phải nộp vào ngân sách và như vậy không dùng được cho mục đích bảo vệ môi trường.

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp không đồng tình. Trong văn bản mới nhất mà 7 hiệp hội doanh nghiệp, doanh nghiệp vừa tham gia góp ý cho Dự thảo, ý kiến tiếp tục là cần xác định rõ đây là một khoản phí và tuân thủ quy định pháp luật về phí. Việc thành lập Văn phòng EPR cũng được cho là không phù hợp khi Văn phòng EPR thu tiền để tái chế thay cho doanh nghiệp, nhưng Dự thảo không có quy định chế tài cho đơn vị này nếu không hoàn thành trách nhiệm…

Các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp này, gồm VASEP, EuroCham, AmCham, Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, Hiệp hội Điện tử Việt Nam và Công ty Canon Việt Nam thậm chí còn lo rằng, với quy định của Dự thảo, doanh nghiệp vẫn phải nộp tiền, nhưng môi trường lại không được làm sạch.

Thêm nữa, những nghi ngại về công thức tính phí, cơ chế quản lý thu – chi rất lớn khi được gọi là khoản thu. Theo các doanh nghiệp, các việc này cần có sự tham gia trực tiếp hoặc chủ trì của Bộ Tài chính, căn cứ thông lệ quốc tế và lộ trình thực hiện ở Việt Nam.

Đặc biệt, 7 hiệp hội, doanh nghiệp đề nghị kéo dài thời gian áp dụng thực hiện trách nhiệm tái chế bao bì của doanh nghiệp đến ngày 1/1/2025, thay vì năm 2024 như Dự thảo.

“Doanh nghiệp cần thêm một khoảng thời gian, nguồn lực để tổ chức lại sản xuất, phục hồi sau khi dịch bệnh được kiểm soát”, ông Nam lý giải.

Cắt giảm các khoản thu cho doanh nghiệp

TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, đa số doanh nghiệp không còn gì để nộp.

“Chính phủ phải ra tay hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động trở lại, hồi phục nhanh để có nguồn tiền. Thứ nhất, cần tiếp tục các chính sách tài khóa hỗ trợ doanh nghiệp, như giãn, hoãn các khoản phải nộp. Thứ hai, các hình thức quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ dự phòng tài chính cũng cần được xem xét, tham gia để hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp có tiềm năng, cơ hội phục hồi nhanh, mạnh trong lúc này”, ông Thiên đề xuất.

Bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, các quy định làm khó doanh nghiệp cũng là một giải pháp cấp bách. Nhưng để thực hiện được, các bộ, ngành phải thực sự vào cuộc.

Trong những khó khăn của doanh nghiệp hiện nay, vấn đề ông Thiên lo ngại hơn cả là khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đang thu hẹp, vì doanh nghiệp yếu đi, việc đứt chuỗi sản xuất, không còn hoặc giảm đơn hàng.

Ngân hàng không thể giảm lãi suất mãi được vì có giới hạn an toàn để bảo vệ hệ thống ngân hàng. Nếu ngân hàng tới hạn, thì Chính phủ ra tay, hỗ trợ bù lãi suất. Ngân hàng cần giám sát các khoản vay một cách chặt chẽ, nhưng đừng quá nghiệt ngã. Đặc biệt, các khoản chi phí, khoản phải nộp của doanh nghiệp lúc này phải được tiết giảm tối đa, để doanh nghiệp có tiền dồn cho phục hội sản xuất – kinh doanh”, ông Thiên nói thêm.

Đáng nói là, đây là những giải pháp cần phải thực hiện ngay trong thời điểm này, cùng với việc thực hiện có hiệu quả các nghị định, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, về an sinh xã hội.

Theo ông Thiên, bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết, các quy định làm khó doanh nghiệp cũng là một giải pháp cấp bách. Nhưng để thực hiện được, các bộ, ngành phải thực sự vào cuộc.

Đây cũng là vấn đề mà Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) khuyến nghị Việt Nam khi công bố Báo cáo Cập nhật triển vọng châu Á (2021) vào giữa tuần này.

Tác động của đợt Covid-19 lần thứ tư trên diện rộng ở Việt Nam đã khiến ADB hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống mức 3,8% trong năm 2021 với nhiều thách thức đến từ việc đóng cửa các trung tâm công nghiệp lớn do giãn cách xã hội, từ tốc độ tiêm vắc-xin còn chậm, từ khả năng thiếu hụt lao động trong các tháng cuối năm… Hệ quả là, các doanh nghiệp dệt may, giày dép, điện tử, điện thoại di động… khó tận dụng hết cơ hội có được từ sự phục hồi của các thị trường nước ngoài chính của Việt Nam, như Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Hoa Kỳ…

Trong khi đó, theo ông Nguyễn Minh Cường, chuyên gia kinh tế trưởng của ADB, triển vọng tăng trưởng trong năm nay và năm sau cũng sẽ phụ thuộc vào việc cung ứng kịp thời và đầy đủ các mặt hàng thiết yếu, như lương thực, thực phẩm và tiền mặt, cho những người bị ảnh hưởng bởi đợt bùng phát đại dịch này.

“Kinh tế Việt Nam có thể hưởng lợi từ việc loại bỏ các rào cản hành chính đối với doanh nghiệp và người dân, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số để nâng cao hiệu quả của các biện pháp kiểm soát đại dịch. Đây cũng chính là giải pháp hỗ trợ sự phục hồi bền vững của nền kinh tế trong năm nay và năm tới của Việt Nam”, ông Cường phân tích.

Bài viết triển khai thực hiện Nghị quyết  84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19.

Xem thêm nội dung TẠI ĐÂY!



Nguồn: baodautu.vn



Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa hoàn tất Dự thảo Nghị quyết về hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Lần đầu tiên, chỉ tiêu doanh nghiệp nhận hỗ trợ được đặt ra.



Ảnh minh họa.
Vào thời điểm này, doanh nghiệp rất cần tốc độ triển khai các giải pháp hỗ trợ.

Giao chỉ tiêu hỗ trợ

Mục tiêu hỗ trợ tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn cản trở hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp để giảm thiểu tối đa số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động, giải thể, phá sản trong Dự thảo Nghị quyết về hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch không dừng lại là một thông điệp.

Lý do là đi cùng với đó là những chỉ tiêu rất cụ thể cho năm 2021, như lũy kế khoảng 1 triệu lượt doanh nghiệp, khách hàng được hưởng chính sách tín dụng hỗ trợ ứng phó đại dịch; khoảng 160.000 doanh nghiệp được hưởng chính sách gia hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế, phí, tiền thuê đất…

Giải trình về các chỉ tiêu thực thi rất cụ thể, lần đầu tiên được đặt ra trong một nghị quyết về hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, các chỉ tiêu được xây dựng dựa trên cơ sở kết quả và dự  kiến thực hiện các chính sách, giải pháp hỗ trợ tín dụng, tài khoá đến tháng 6/2021 của các bộ, ngành liên quan.

Nhưng một cách thẳng thắn, với thời gian còn lại của năm 2021 không nhiều và những khó khăn của doanh nghiệp đang đội lên hàng giờ, việc đặt ra chỉ tiêu cũng tạo áp lực, thúc đẩy việc tổ chức thực hiện và cả tốc độ thực thi, không chỉ ở các bộ, ngành, mà cả sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương.

Yêu cầu tốc độ thực thi

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư về các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, các đề xuất giải pháp đều rất cần, nhiều nội dung đã có, nhưng đòi hỏi từ doanh nghiệp lúc này là tốc độ.

“Tôi vừa làm việc với một số doanh nghiệp của Hiệp hội Dệt may Việt Nam. Họ nói chấp nhận chịu lỗ, thậm chí lỗ nhiều, để tiếp tục sản xuất, giữ được đơn hàng, giữ được thị trường. Nếu các giải pháp hỗ trợ đến kịp thời, các doanh nghiệp này sẽ không rơi vào thế đứt dòng tiền, không phải dừng hoạt động…”, ông Kiên nói.

Lý do lỗ của các doanh nghiệp đến từ chi phí tăng cao, gồm cả chi phí sản xuất khi công suất giảm tới 50% do các quyết định giãn cách để phòng, chống dịch của nhiều địa phương, chi phí thiết bị phòng, chống dịch… Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp buộc phải chọn đường hàng không để xuất hàng, thay vì đường biển, với chi phí cao hơn 4-5 lần để kịp thời gian giao hàng theo yêu cầu của đối tác.

Trong tình thế này, nhóm nhiệm vụ, giải pháp thực hiện các biện pháp phòng, chống đại dịch Covid-19 linh hoạt, hiệu quả, tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và duy trì hoạt động sản xuất – kinh doanh mà Dự thảo Nghị quyết đặt ra ở hàng ưu tiên số 1 cần phải được thực hiện với tốc độ cao nhất, từ cấp trung ương đến địa phương. Tiếp ngay sau là nhóm nhiệm vụ, giải pháp đảm bảo lưu thông hàng hoá thông suốt, hiệu quả, khắc phục chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị bị gián đoạn…

Hai nhóm giải pháp còn lại là hỗ trợ cắt giảm chi phí, tháo gỡ khó khăn về dòng tiền cho doanh nghiệp, cơ sở sản xuất – kinh doanh và nhóm nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn về lao động, chuyên gia.  

Các bộ, ngành và địa phương đều có nhiệm vụ rất cụ thể. Ví dụ, Chính phủ giao Bộ Y tế ban hành quy định hướng dẫn doanh nghiệp mua dụng cụ, thực hiện tự xét nghiệm và công nhận kết quả xét nghiệm của doanh nghiệp, báo cáo Thủ tướng trong tháng 8/2021.

Bộ Giao thông – Vận tải được giao hướng dẫn các địa phương thực hiện thống nhất luồng xanh vận tải đường bộ và đường thủy toàn quốc, liên tỉnh, liên vùng để vận chuyển hàng hóa thông suốt trên nguyên tắc đơn giản hóa thủ tục, nhanh chóng, thuận lợi…

Dự thảo Nghị quyết cũng ghi rõ, không quy định thêm các điều kiện cản trở lưu thông, đặc biệt đối với hàng hóa thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân, vật tư, nguyên liệu sản xuất, không để xảy ra tiêu cực, làm tăng chi phí của doanh nghiệp.

Về việc xây dựng và áp dụng phương án, mô hình tổ chức sản xuất – kinh doanh an toàn phù hợp với diễn biến  đại  dịch – vấn đề mà rất nhiều doanh nghiệp đang rất quan tâm, Dự thảo Nghị quyết giao các địa phương và doanh nghiệp chủ động nghiên cứu, thống nhất, quyết định và chịu trách nhiệm về phương án, điều kiện tổ chức sản xuất – kinh doanh an toàn phù hợp với diễn biến dịch bệnh ở địa phương và điều kiện của doanh nghiệp.  

“Doanh nghiệp đang rất chờ việc thực hiện giải pháp này, nhất là y tế tại chỗ, mô hình sản xuất phù hợp…,  đặc biệt là khi TP.HCM đã có quyết định kéo dài thời gian giãn cách xã hội tới ngày 15/9”, ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản chia sẻ.

Sẽ có 2 nghị quyết hỗ trợ doanh nghiệp

Nội dung của Dự thảo Nghị quyết về hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19 là một phần của Dự thảo Nghị quyết hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021-2025 và một số giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng trước đó.

Trong dự thảo xin ý kiến lần 1, các nhiệm vụ, giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp bao gồm hai nhóm. Một là, nhóm các chính sách, giải pháp cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy

sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Hai là, nhóm các chính sách, giải pháp dài hạn hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn 5 năm 2021-2025 (thay thế cho Nghị quyết số 35/2016/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020).

Tuy nhiên, theo các chuyên gia về doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các vấn đề hỗ trợ trước mắt và dài hạn nếu để chung trong một nghị quyết sẽ khó thể hiện tính cấp bách, kịp thời của các chính sách, giải pháp cần thực hiện ngay. Do đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã điều chỉnh theo hướng trình Chính phủ ban hành 2 Nghị quyết riêng. Trong đó, Nghị quyết thay thế Nghị quyết số 35/NQ-CP sẽ được tiếp tục hoàn thiện và trình Chính phủ trong tháng 9/2021 theo Chương trình công tác của Chính phủ năm 2021.



Nguồn: baodautu.vn



Doanh nghiệp đề xuất hàng loạt giải pháp hỗ trợ vượt thẩm quyền

Hàng loạt giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp duy trì sản xuất được các hiệp hội đề xuất. Nhiều đề xuất vượt thẩm quyền của Chính phủ.



Chi phí tăng cao, mất lao động, mất khách hàng… là những vấn đề lớn với doanh nghiệp hiện nay. 

Đề nghị kéo dài thời gian làm thêm giờ

“Đề nghị cho doanh nghiệp bố trí thời gian làm thêm của người lao động hơn 40 giờ/tháng để giải quyết các công việc gấp, tồn đọng”.

Đây là kiến nghị mới nhất của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) gửi Thủ tướng Chính phủ. Đề xuất được tập hợp từ nhiều hiệp hội doanh nghiệp.

Nhưng việc này không thuộc thẩm quyền của Chính phủ. Theo quy định của Bộ luật Lao động vừa có hiệu lực ngày 1/1/2021, thời gian làm thêm của người lao động được quy định là 40 giờ/tháng.

Vấn đề là các quyết định phong tỏa, giãn cách để phòng chống dịch bệnh ở nhiều địa phương trên cả nước, đặc biệt tại TP.HCM và các tỉnh lân cận, đã khiến nhiều doanh nghiệp đình trệ hoạt động. Ngay cả phương án “3 tại chỗ” từng được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp tăng tối đa thời gian sản xuất trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài cũng đang bộc lộ nhiều bất cập.

Thông tin từ Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp thủy sản tại các tỉnh, thành phố phía Nam đảm bảo được điều kiện “3 tại chỗ” và số lượng công nhân có thể huy động cũng chỉ 30 – 50% trong tổng số lao động. Công suất sản xuất trung bình đã giảm chỉ còn 40 – 50% so với trước. Dự tính công suất chung của cả vùng giảm chỉ còn 30 – 40%. 

Cùng với đó, nguyên liệu thủy sản huy động cho chế biến – xuất khẩu cũng chỉ đạt khoảng 40-50% so với nguồn nguyên liệu bên ngoài. Các vật tư, phụ liệu, bao bì… phục vụ chế biến thủy sản cũng bị thu hẹp, giảm công suất nguồn cung đến 50%.

“Việc thực hiện “3 tại chỗ” chỉ là biện pháp tình thế tạm thời trong thời gian ngắn, chỉ có thể kéo dài từ 2-3 tuần đối với các doanh nghiệp vừa, các doanh nghiệp lớn hơn duy trì tối đa 4-5 tuần”, VASEP báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Tình trạng tương tự đang diễn ra trong nhiều doanh nghiệp ngành dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử… ở Bình Dương và nhiều địa phương thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg.

Trong văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ, Ban IV đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội xem xét, trình xin ý kiến Quốc hội để ban hành cơ chế cho phép doanh nghiệp sau thời gian giãn cách được chủ động bố trí thời gian làm thêm của người lao động có thể hơn 40 giờ trong 1 tháng để giải quyết các công việc gấp, tồn đọng.

Các doanh nghiệp mong muốn, đề xuất này cần được xử lý gấp để doanh nghiệp có thể thực hiện ngay khi dịch được kiểm soát.

Giảm mức đóng phí công đoàn

Trong công văn dài 5 trang, với nhiều vấn đề đang xảy ra trong 270 doanh nghiệp hội viên mà Tổng thư ký VASEP Trương Đình Hòe báo cáo Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Minh Hoan, nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp được gửi gắm.

Có thể nhắc đến đề nghị giảm lãi suất vay ngân hàng, giảm 30% tiền điện cho đến ít nhất hết năm 2021, tăng mức hỗ trợ từ nguồn bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động, đề nghị bảo hiểm xã hội chi trả lương và chi phí cho các trường hợp người lao động đi cách ly do dịch bệnh Covid-19 theo yêu cầu của cơ quan y tế…

Việc triển khai Nghị quyết 68/NQ-CP và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg với các chính sách, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động bị mất việc, ngừng việc… do ảnh hưởng của đại dịch cũng được đề nghị đẩy nhanh tiến độ.

Hiện tại, thủ tục hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất đang có những quy định gây khó, khiến hầu hết doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách. Cụ thể, điểm b, khoản 2, Điều 38, Quyết định 23/2021/QĐ-TTg yêu cầu doanh nghiệp “đã hoàn thành quyết toán thuế năm 2020 tại thời điểm đề nghị vay vốn”.

Vấn đề là, theo pháp luật về thuế thì doanh nghiệp có thể thực hiện quyết toán thuế với chu kỳ 3-5 năm, không bắt buộc quyết toán từng năm. Bối cảnh đại dịch xảy ra từ năm 2020 tới nay khiến doanh nghiệp hết sức khó khăn về tài chính, nên việc yêu cầu phải quyết toán thuế năm 2020 cho dù doanh nghiệp chưa tới chu kỳ quyết toán cần thiết là một quy định chưa hợp lý.

Đặc biệt, VASEP tiếp tục đề xuất giảm mức đóng kinh phí công đoàn từ 2% quỹ lương xuống còn 1% quỹ lương cho các doanh nghiệp. Năm ngoái, trong nhiều đề xuất các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, VASEP đã nhắc đến đề nghị này.

Theo VASEP, đây là những hỗ trợ quý báu để doanh nghiệp có thêm điểm tựa trong bối cảnh khó khăn hiện nay, để duy trì được “3 tại chỗ” và đặc biệt là có thêm cơ hội, nguồn lực cho việc phục hồi sản xuất, xuất khẩu.

Nhưng, mức 2% kinh phí công đoàn mà cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải đóng đang được quy định tại Luật Công đoàn hiện hành. Theo trình tự bình thường, các đề xuất của doanh nghiệp nếu được chấp thuận, Chính phủ sẽ phải chuẩn bị hồ sơ trình Quốc hội xin ý kiến trong các kỳ họp tới đây.

Các doanh nghiệp đang trong lúc vô cùng khó khăn, cần quyết sách nhanh và mạnh hơn.

Doanh nghiệp đang lo mất lao động, mất khách hàng

Theo ông Mai Hữu Tín, Chủ tịch Tập đoàn U&I, Chủ tịch Liên đoàn doanh nghiệp Bình Dương, các doanh nghiệp đã hết sức nỗ lực tổ chức 3 tại chỗ theo đề nghị của chính quyền, chấp nhận chịu chi phí rất cao để tổ chức ăn ở, xét nghiệm và bảo đảm công việc, thu nhập cho người lao động… dù các nhà máy không được thiết kế để làm 3 tại chỗ.

Nhưng chi phí tăng rất cao, mất lao động, mất khách hàng, phải đóng cửa nhà máy, xử lý nợ ra sao… đều là những vấn đề lớn với doanh nghiệp hiện nay. Người lao động thì lo lắng và thậm chí hoảng sợ về nguy cơ bị nhiễm dịch.

Nhưng hiện tại, đang có cụm từ “hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu để xảy ra mất an toàn…” xuất hiện ở văn bản của nhiều cấp chính quyền khác nhau. Nếu vậy, thì thà chúng ta xác định là ngừng sản xuất luôn để doanh nghiệp dễ tính.

Trước mắt, nếu muốn giữ sản xuất, dù ở mức tối thiểu, thì nên có khẳng định từ cấp cao nhất là người lao động trong các doanh nghiệp đang thực hiện 3 tại chỗ sẽ được ưu tiên tiêm vắc-xin sớm nhất để ổn định tâm lý.

Trình các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trước ngày 10/8/2021

Phó thủ tướng Lê Minh Khái đã yêu cầu Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các bộ, cơ quan liên quan, trên cơ sở nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Khóa XV, khẩn trương hoàn thiện đề xuất ban hành văn bản pháp luật phù hợp theo trình tự thủ tục rút gọn về các giải pháp tiếp theo hỗ trợ người dân, doanh nghiệp chịu tác động của Covid-19 theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Thời gian trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ là trước ngày 10/8/2021, để trình cấp thẩm quyền xem xét, quyết định.

Phó thủ tướng cũng yêu cầu đánh giá kỹ các giải pháp chính sách hỗ trợ đã thực hiện vừa qua, trên cơ sở đó, xác định sự cần thiết phải điều chỉnh, bổ sung về đối tượng thụ hưởng, nội dung chính sách, thời hạn thực hiện… bảo đảm các chính sách phát huy hiệu quả cao nhất, hỗ trợ kịp thời cho người dân, doanh nghiệp.

Đặc biệt, Phó thủ tướng yêu cầu lấy đủ ý kiến các đối tượng chịu tác động của chính sách.



Nguồn: baodautu.vn



Sức khỏe của doanh nghiệp như thế nào đang phụ thuộc rất lớn vào việc thực hiện các giải pháp phòng chống dịch và tư duy hỗ trợ doanh nghiệp của cơ quan nhà nước.



Nỗ lực giải tỏa nhưng ách tắc trong chính sách hỗ trợ, trong quy định hành chính sẽ giúp doanh nghiệp giảm bớt áp lực, từng bước ổn định, phát triển sản xuất. Ảnh: Ngọc Thành. Đồ họa: Đan Nguyễn

Thế mắc kẹt

Ách tắc kéo dài ở nhiều cửa ngõ ra vào các thành phố trong tuần này sẽ còn là nỗi ám ảnh rất lớn với tất cả doanh nghiệp.

Dù tình hình đã dần được tháo gỡ sau khi Chính phủ đã có Nghị quyết 78/NQ-CP ngày 20/7 yêu cầu các địa phương không tự ý đặt ra “giấy phép con” làm ách tắc, cản trở việc lưu thông hàng hóa và người thi hành công vụ, nhưng theo bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban Nghiên cứu và Phát triển kinh tế tư nhân (Ban VI), thực tế đang cho thấy chưa dễ giải tỏa thế kẹt của doanh nghiệp.

“Chúng tôi thực sự sốt ruột”, bà Thủy nói và đưa ra hình ảnh các đoàn xe container xếp hàng dài vài cây số được doanh nghiệp gửi về.

Có xe báo, đi từ Bắc Ninh lúc 18 giờ, nhưng đến 11 giờ  hôm sau vẫn chưa đến được chốt Quán Toan (Hải Phòng). Có xe báo, đến Quảng Nam lấy hàng, nhưng chốt kiểm dịch ở Núi Thành yêu cầu đưa hàng ra chốt, không cho xe vào…

Nhưng doanh nghiệp không chỉ vất vả ở chốt chống dịch.

“Tôi vừa nhận được câu hỏi của doanh nghiệp ở Nha Trang về việc đã áp dụng Nghị quyết 66/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 1/7 chưa, vì thực tế không như những gì mà chúng tôi gửi cho doanh nghiệp trước đó”, bà Thủy chia sẻ thông tin.

Doanh nghiệp này cho biết, khi làm thủ tục cấp lại phù hiệu xe, cơ quan quản lý tại địa phương vẫn giữ yêu cầu phải lắp camera thì mới cấp phù hiệu mới, cho dù trong hồ sơ xin cấp lại phù hiệu xe không có điều kiện này. Trong khi đó, với Nghị quyết 66/NQ-CP, Chính phủ đã cho phép tạm ngừng xử phạt ô tô chưa lắp camera giám sát đến hết ngày 31/12/2021 để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn hiện tại.

Trong bối cảnh bình thường, những khó khăn do độ trễ trong thực thi văn bản như trên dường như là bình thường và ít khi doanh nghiệp phải lên tiếng, nhưng thời điểm này, nhiều doanh nghiệp đang chịu quá nhiều áp lực, quá khó khăn.

Cách đây vài ngày, Chủ tịch Hiệp hội Sữa Việt Nam, ông Trần Quang Trung cho biết đã phải gửi văn bản đề nghị tới nhiều địa phương vì họ đề nghị doanh nghiệp phải nộp trực tiếp hồ sơ đăng ký công bố sản phẩm với thực phẩm nhập khẩu hoặc qua đường bưu điện do dịch bệnh.

“Chúng tôi đã kiến nghị thực hiện online để đỡ thời gian đi lại đang rất khó khăn trong bối cảnh dịch bệnh. Cũng đề nghị các cơ quan quản lý công nhận kết quả kiểm định của nhau. Cùng là một sản phẩm, nhưng cơ quan nào cũng thực hiện kiểm định riêng, gây nên chi phí rất lớn không đáng có cho doanh nghiệp”, ông nói.

Còn nhiều chi phí có thể cắt giảm

Khi chia sẻ về những chờ đợi của doanh nghiệp, ông Trần Đức Nghĩa, Giám đốc Công ty TNHH quốc tế Delta cho rằng, thực tiễn kinh doanh, khoa học – công nghệ đã thay đổi rất nhiều, nên cơ quan quản lý nhà nước cũng cần có những thay đổi về tư duy.

Ông Nghĩa đã thử tính, chỉ cần một thao tác đơn giản là kết nối phần mềm hải quản cảng với Hệ thống hải quan điện tử (VNACCS/VCIS) để xác thực quá trình ra vào cụ thể của một lô hàng ở khu giám sát hải quan, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được 300 triệu USD/năm cho thủ tục thanh lý tờ khai hải quan.

“Hiện tại, chúng tôi có hơn 400 nhân viên trên khắp cả nước, thì 10% trong số này làm việc đơn giản là cầm tờ A4 đi chỗ này, chỗ kia. Nếu kết nối được các thủ tục kiểm tra chuyên ngành ở hải quan như trên, lao động của chúng tôi sẽ có thời gian làm việc khác. Phía ngân sách nhà nước cũng có lợi khi tiết giảm được nhiều biên chế đang làm thủ tục đơn giản này”, ông Nghĩa nói.

Nhiều năm trước, chính ông Nghĩa cũng không nghĩ là thủ tục hải quan có thể đơn giản hóa được như vậy.

Đặc biệt, sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, biểu thuế xuất nhập khẩu giảm mạnh… khiến xung đột giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp liên quan đến áp mã HS, xác định trị giá tính thuế giảm xuống. Doanh nghiệp đã thấy rõ thực tiễn là không thể “né” thuế bằng việc làm thấp giá trị tính thuế nhập khẩu, vì như vậy, thuế phải nộp khi tiêu thụ nội địa sẽ tăng lên.

“Chúng tôi muốn nói đến điều này, mong có cái nhìn cởi mở hơn của cơ quan hải quan. Đúng là nhiều khi có doanh nghiệp muốn kiện cơ quan hải quan vì xác định giá trị tính thuế không đúng, nhưng không dám. Vấn đề là, khi bị áp giá tính thuế oan uổng, doanh nghiệp không còn lợi nhuận nữa”, ông Nghĩa chia sẻ ruột gan.

Đây là lý do bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương – CIEM) cho rằng, những hỗ trợ từ thực thi chính sách một cách có trách nhiệm, với tinh thần phục vụ, thay vì quản lý doanh nghiệp sẽ có tác dụng kích thích doanh nghiệp hơn cả vào thời điểm này.

“Doanh nghiệp vẫn đang rất kêu về thủ tục kiểm tra chuyên ngành, dù đã có thay đổi rất lớn là chuyển từ trước thông quan sang sau thông quan với phần lớn trường hợp. Tuy nhiên, chính vì không còn áp lực về thời gian thông quan như trước, nên tốc độ cải thiện thủ tục có vẻ chậm đi”, bà Thảo nói.

Đặc biệt, việc kết nối thủ tục hành chính trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia vẫn chủ yếu ở cấp độ 3, nghĩa là vừa thực hiện online, vừa yêu cầu hồ sơ giấy cũng đang khiến doanh nghiệp khó khăn trong thực hiện khi dịch bệnh lan rộng.

Theo bà Thảo, đây chính là lúc đẩy nhanh việc thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng Thông tin một cửa quốc gia lên cấp độ 4. Với trường hợp bắt buộc phải có hồ sơ gốc, phương án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang đề xuất là xử lý trước trên hệ thống, hậu kiểm hồ sơ sau có thể cần được xem xét, nhân rộng.

“Lúc này, chỉ cần nhanh hơn một chút, thì doanh nghiệp đỡ khó khăn hơn nhiều”, bà Thảo khuyến nghị tới các cơ quan quản lý nhà nước.

Doanh nghiệp không ngại thay đổi quy định nếu vướng mắc được gỡ

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư trước phiên thảo luận về tình hình kinh tế – xã hội tại hội trường Quốc hội, ông Vũ Tiến Lộc, đại biểu đoàn Hà Nội, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã nhắc tới những khó khăn rất lớn của doanh nghiệp.

Khó khăn đến từ dịch bệnh, từ các biện pháp phòng, chống dịch, từ việc tăng phi mã của giá cả hàng hóa, nguyên liệu đầu vào của sản xuất.

Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm, hàng hóa phi nhiên liệu tăng gần 40%, riêng nhóm hàng hóa cho sản xuất công nghiệp tăng tới 70% sau gần 1 năm. Giá nhiên liệu tăng gần 110%. Giá thuê đất ở khu công nghiệp tăng xấp xỉ 8%. Giá vận tải biển tăng 4-8 lần, tùy hải trình.

Chi phí mà doanh nghiệp đang gánh thực sự quá lớn, sẽ không chỉ ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp.

Thậm chí, TS. Phạm Thế Anh, Trưởng bộ môn Kinh tế vĩ mô (Đại học Kinh tế quốc dân) đang lo ngại những khó khăn trong giao thương, thương mại khiến nền kinh tế có nguy cơ rơi vào tình thế định trệ, nếu không có những động thái quyết liệt.

“Chúng ta sẽ không thể bàn về một gói hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp như nhiều nền kinh tế khác, cũng không thể đòi hỏi ngân hàng hạ chuẩn cho vay…, nhưng chúng ta lại có dư địa để nói về gói hỗ trợ thể chế. Quan điểm của tôi vẫn là hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách tháo gỡ thủ tục, giảm chi phí tuân thủ, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, hoàn thiện thể chế pháp luật bên cạnh đẩy nhanh tiến độ gói hỗ trợ doanh nghiệp đang được thực hiện”, ông Lộc đề xuất.

Đặc biệt, ông Lộc đang chờ đợi vào việc thực hiện yêu cầu của Chính phủ trong quá trình  rà soát tổng thể các quy định, để phát hiện những quy định không phù hợp, đang làm khó doanh nghiêp.

“Chính phủ đã có văn bản yêu cầu các bộ, ngành phải hoàn tất trong tháng tháng 7/2021. Việc này cần làm nhanh để Chính phủ có kế hoạch sửa đổi, bổ sung kịp thời. Có thể sẽ có nhiều văn bản phải chỉnh sửa, nhưng nếu cần thì phải làm nhanh và quan trọng là có chất lượng, phù hợp với thực tiễn”, ông Lộc nói thêm.

Trong khá nhiều cuộc điều tra doanh nghiệp gần đây, có một điểm khác biệt so với trước là, doanh nghiệp không còn kêu ca nhiều về tình trạng văn bản thay đổi liên tục. Trong báo cáo Mức đội hài lòng của doanh nghiệp về thực hiện thủ tục hành chính xuất nhập khẩu mà VCCI vừa công bố tuần trước, doanh nghiệp không cảm thấy phiền hà khi tần xuất văn bản thay đổi khá nhiều kể từ năm 2017 đến nay.

Đây là lý do ông Lộc cho rằng, trong bối cảnh kinh tế đang đối mặt với nhiều thách thức và cả cơ hội, việc xem xét, sửa đổi quy định không còn phù hợp, dù có thể mới ban hành, cũng là một cách thức hỗ trợ doanh nghiệp.

Đặc biệt, ông Lộc đề nghị các địa phương có thể ứng dụng mô hình Tổ công tác đặc biệt của Thủ tướng Chính phủ về rà soát, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và thúc đẩy thực hiện dự án đầu tư tại các bộ, ngành và địa phương (vừa ban hành theo Quyết định 1242/QĐ-TTg).

Tổ này được Chính phủ giao nhiệm vụ rà các dự án đầu tư công (bao gồm dự án ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài); dự án đầu tư kinh doanh (bao gồm dự án đầu tư trong nước và dự án FDI); dự án đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP).

“Đây là những dự án lớn, có tính liên kết. Nhưng ở các địa phương còn nhiều dự án quy mô nhỏ hơn của các doanh nghiệp cũng cần được tháo gỡ, nhất là các dự án của doanh nghiệp tư nhân. Lúc này, cứ tháo được ách tắc nào, thì doanh nghiệp sẽ có cơ hội hồi phục nhanh hơn”, ông Lộc phân tích.

 

Nhiều tổ chức nghiên cứu hạ dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021

Trong các báo cáo cập nhật kinh tế vĩ mô, nhiều tổ chức nghiên cứu đã hạ dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2021 so với lần công bố trước.

Cụ thể, Ngân hàng Standard Chartered dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 ở mức 6,5%, giảm nhẹ do với dự báo 6,7% được ngân hàng này đưa ra trước đó. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng điều chỉnh giảm từ 6,7% xuống còn 5,8%.

Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cũng vừa công bố 3 kịch bản, trong đó ở kịch bản cơ sở, tốc độ tăng trưởng GDP chỉ khoảng 4,5 – 5,1% nếu dịch được kiểm soát vào cuối quý III/2021; kịch bản cao là 5,4 – 6,1% nếu trong tháng 8/2021 các biện pháp giãn cách đủ điều kiện gỡ bỏ. Trong lần công bố trước, các dự báo là 6,0 – 6,3%.

Hai kịch bản của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương là 5,9 và 6,2%.

Bài viết triển khai thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19.

Xem thêm nội dung TẠI ĐÂY!

 



Nguồn: baodautu.vn



Chính phủ đang đặt trọng tâm rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp.

Vấn đề là sự vào cuộc của các bộ, ngành, địa phương.



Doanh nghiệp thủy sản mong muốn, việc kiểm tra an toàn thực phẩm với các sản phẩm thủy sản được quy định theo thông lệ quốc tế. Ảnh: Đ.T

Sửa nhưng vẫn vướng

Mặc dù Thông tư số 15/20218/TT-BNNPTNT đã được liệt kê trong Danh mục Văn bản quy phạm pháp luật do bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành cần sửa đổi, bổ sung, ban hành mới (ban hành kèm theo Quyết định số 889/2021/QĐ-TTg, ngày 7/6/2021), nhưng ông Nguyễn Hoài Nam, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản (Vasep) vẫn chưa an tâm.

“Chúng tôi vừa có cuộc trao đổi, trực tiếp kiến nghị các đề xuất của doanh nghiệp với lãnh đạo Vụ Pháp chế và lãnh đạo Cục Thú y (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), vì dự thảo thông tư sửa đổi không gỡ được vướng mắc mà doanh nghiệp đang chờ đợi”, ông Nam trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư.

Vẫn là kiến nghị mà Vasep đã nhiều lần gửi tới Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2010 đến nay, đó là quy định rõ hàng thủy sản đông lạnh và sản phẩm thủy sản đông lạnh không thuộc diện phải thực hiện thủ tục đăng ký và kiểm dịch thú y.

Cơ sở của kiến nghị này là quy định của Tổ chức Thú y thế giới, thông lệ đang thực hiện tại EU, các nước Bắc Mỹ, các nước trong khu vực ASEAN… chỉ kiểm tra an toàn thực phẩm với các sản phẩm thủy sản chế biến (đông lạnh, đồ hộp, hàng khô, ướp muối…) dùng làm thực phẩm. Việc kiểm dịch nếu có sẽ phục vụ việc tìm kiếm các tác nhân gây bệnh cho thủy sản, chứ không phải là các chỉ tiêu an toàn thực phẩm như quy định trong các thông tư của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Việc duy trì quy định như vậy đã khiến hầu hết các container hàng thủy sản nhập khẩu đều phải kiểm tra, dù mục đích nhập khẩu là gia công hàng xuất khẩu hay tiêu dùng nội địa.

Theo số liệu công bố của Dự án Hỗ trợ kỹ thuật tạo thuận lợi thương mại (TFP) của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Hội thảo góp ý Dự thảo sửa đổi Thông tư số 15/2018/TT-BNNPTNT tổ chức đầu năm 2021, số lượng lô hàng vi phạm trong quá trình kiểm dịch các năm qua là vô cùng thấp. Cụ thể, năm 2017, có 4 vụ bị phát hiện vi phạm trong tổng số 320.376 tờ khai, chiếm 0,001%; năm 2018, có 6/183.831 tờ khai bị vi phạm; năm 2019, không phát hiện vi phạm trong 320.376 tờ khai. Trong khi đó, các yêu cầu về kiểm dịch, tần suất kiểm dịch và số lượng lô hàng bị đưa vào diện kiểm dịch lại tăng dần lên từ năm 2010 đến nay.

Tuy nhiên, Dự thảo sửa đổi Thông tư số 15/2018/TT-BNNPTNT vẫn tiếp tục đưa các sản phẩm chế biến từ động vật, sản phẩm động vật hoặc sản phẩm có chứa “sản phẩm động vật” thủy sản (đông lạnh, hàng khô, đồ hộp, nấu chín, ăn liền…) thuộc danh mục phải kiểm dịch. “Đây là biện pháp quá mức, chưa phù hợp với chủ trương cắt giảm danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, với quy định pháp luật cũng như thông lệ quốc tế hiện hành”, Dự án TFP đã đưa ra nhận định như vậy.

Tính thêm cả sự bất nhất hiện hữu về các khái niệm sản phẩm rủi ro cao, rủi ro thấp với sản phẩm thủy sản giữa hai thông tư cùng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành, ông Nam đang lo, doanh nghiệp còn khổ dài.

Ai chịu trách nhiệm?

“Đây là trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vì các kiến nghị đều thuộc thẩm quyền xem xét của bộ này”, ông Nam nói khi đưa ra hàng loạt kiến nghị tương đồng thu thập được từ các hiệp hội doanh nghiệp khác, gồm cả Hiệp hội Thương mại Hoa Kỳ tại Việt Nam (AmCham) và Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN (USABC)…

Nhưng, nhiều cuộc họp trôi qua, thậm chí đã được ghi trong các nghị quyết của Chính phủ về giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh nhiều năm, mà vướng mắc vẫn còn nguyên. “Chúng tôi cảm thấy sốt ruột, vì thời hạn mà Chính phủ yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Thông tư sửa đổi Thông tư số 15/2018/TT-BNNPTNT là tháng 12/2021. Chúng tôi cố gắng lên tiếng, nhưng vấn đề là, các cơ quan liên quan có lắng nghe hay không”, ông Nam tâm tư.

Trên thực tế, lo lắng này không chỉ của một vài hiệp hội doanh nghiệp. Trong các dự kiến hướng đề xuất tiếp theo cho những kiến nghị vướng mắc của doanh nghiệp mà lâu không nhận được phản hồi, các chuyên gia của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) đã phải tính cả phương án đề nghị Bộ Nội vụ trừ điểm khi đánh giá mức độ cải cách hành chính hàng năm của các bộ, ngành, địa phương.

Vì, trong danh sách các kiến nghị chưa được phản hồi của Ban IV, có kiến nghị đã hơn 6 tháng chưa có hồi âm, có kiến nghị nhận được hồi âm sau 5 tháng, nhưng lại là nội dung chuyển cơ quan khác xử lý.

Các kiến nghị đều là những vướng mắc hiện hữu, chậm được giải quyết đồng nghĩa với chi phí phải bỏ ra là tiền tươi, thóc thật. Ví dụ, các các doanh nghiệp tại TP.HCM và các tỉnh, thành phố đang phải gửi mẫu lốp xe mô tô, xe gắn máy ra Cục Đăng kiểm tại Hà Nội, vì đây là đầu mối duy nhất kiểm nghiệm mẫu theo quy chuẩn khi doanh nghiệp muốn nhập khẩu các mặt hàng này về Việt Nam. Doanh nghiệp đề nghị Bộ Giao thông – Vận tải công nhận bổ sung các đơn vị thực hiện chức năng này tại các khu vực khác để giảm thiểu chi phí, nhưng chưa thấy hồi âm.

Cũng với quy định về kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu, một số doanh nghiệp nhập khẩu đèn led trị giá 132 euro/chiếc, nhưng theo quy định phải nộp 5 cái làm thử nghiệm, với chi phí thử nghiệm là 10 – 14 triệu/sản phẩm. Doanh nghiệp chỉ mong Bộ Khoa học và Công nghệ công bố cụ thể các tiêu chí từ phía Việt Nam cần để nhà sản xuất nước ngoài làm theo và cung cấp lại cho đối tác mua hàng phía Việt Nam.

“Doanh nghiệp có trách nhiệm tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, nhưng cũng mong muốn các quy định phải thực tế. Như mới đây, khi Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan có dự thảo Nghị định Kiểm tra nhà nước về chất lượng, an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu, chúng tôi rất mừng vì trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan được ghi rõ, cách thức thực hiện cũng rõ ràng, thực tế”, ông Nam chia sẻ.

Doanh nghiệp thực sự chỉ cần các quy định như vậy.

Kết luận phiên họp Chính phủ chuyên đề xây dựng pháp luật tháng 6/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã yêu cầu, tiếp tục đổi mới việc triển khai công tác xây dựng pháp luật theo hướng kịp thời hơn, bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo…

Thủ tướng đặc biệt nhấn mạnh, các bộ trưởng, người đứng đầu các cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc công tác xây dựng thể chế và thực thi pháp luật.

Bài viết triển khai thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19.

Xem thêm nội dung TẠI ĐÂY!



Nguồn: baodautu.vn



Cú sốc lịch sử và giấc mơ gượng dậy của ngành kinh tế xanh – Bài 4: Ngóng trông giải pháp “hồi sức tích cực”

Đa phần các doanh nghiệp lữ hành còn sống sót sau 3 “trận chiến” Covid-19 trước đó đang phải thở ô xy. Họ rất cần những giải pháp “hồi sức tích cực” từ Nhà nước để tái sinh.

“Sóng thần” Covid-19 làm tan hoang ngành kinh tế xanh, lần lượt hạ gục, đánh chìm các “con thuyền” lữ hành siêu nhỏ, nhỏ và vừa. Trong vòng xoáy khó khăn, “cháy nhà tứ phía”, dẫu mạnh mẽ đến đâu, thì những người làm du lịch kỳ cựu cũng không giấu nổi khuôn mặt phờ phạc, mái tóc bạc màu vì mưu sinh, vì nợ nần và ánh mắt trông chờ sự hỗ trợ nhanh chóng, thiết thực từ Nhà nước.
Khoảng 90% doanh nghiệp lữ hành đã đóng cửa hoặc tạm dừng hoạt động
Khoảng 90% doanh nghiệp lữ hành đã đóng cửa hoặc tạm dừng hoạt động

Bài 4: Ngóng trông giải pháp  “hồi sức tích cực”

Đa phần các doanh nghiệp lữ hành còn sống sót sau 3 “trận chiến” Covid-19 trước đó đang phải thở ô xy. Họ rất cần những giải pháp “hồi sức tích cực” từ Nhà nước để tái sinh.

Trả lại sự ưu ái xứng đáng cho du lịch

Bao nhiêu nguồn lực qua 3 lần chống dịch đã cạn kiệt, giờ đây, các doanh nghiệp lữ hành rơi vào cảnh không thể thê thảm hơn. Ngay cả Tập đoàn Lux Group – một hệ sinh thái với các dịch vụ trọn gói gồm: lữ hành Lux Travel DMC, Luxury Travel, xe sang trọng Luxtransco, hãng du thuyền Emperor, du thuyền Heritage Bình Chuẩn với các tour trải nghiệm ở Nha Trang, Hạ Long, Cát Bà… cũng lâm vào cảnh kiệt quệ.

Đội du thuyền buộc phải “ngủ đông giữa mùa hè”. Lữ hành giải quyết hoãn, hủy toàn bộ tour trong tháng 5 cho du khách và không có booking mới. Đội xe ô tô, limousine nằm yên trong bãi. Tham vọng phát triển đội du thuyền 30 chiếc của doanh nhân Phạm Hà, Chủ tịch HĐQT, kiêm CEO Lux Group phải tạm gác lại vì Tập đoàn đang rơi vào cảnh sức cùng lực kiệt.

Có cảm giác chính sách đang lơ lửng phía trên, doanh nghiệp dường như gần chạm tới, nhưng không thể nắm bắt.

– Bà Nguyễn Thị Huyền, Giám đốc điều hành Vietrantour

“Các cấp, ngành, địa phương nói nhiều đến việc phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, nhưng qua hơn một năm lao đao vì đại dịch, ngành kinh tế xanh vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Các doanh nghiệp du lịch chưa ‘ngửi’ thấy, chứ đừng nói là chạm được vào các gói cứu trợ”, ông Hà nói.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Huyền, Giám đốc điều hành Vietrantour khẳng định, muốn vực dậy ngành kinh tế xanh, trước tiên cần phải “hồi sức tích cực” cho doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp ở các lĩnh vực liên quan trực tiếp gồm vận chuyển, hàng không, khách sạn, nhà hàng.

Hiện có tới hơn 95% doanh nghiệp lữ hành quốc tế đã rút giấy phép kinh doanh hoặc dừng hoạt động vì không đủ sức chống trả những “trận đòn” của Covid-19. Thị trường trong nước không ổn định, thị trường quốc tế đóng băng khiến ngay cả những doanh nghiệp mạnh cũng kiệt quệ. “Ngay từ bây giờ, rất mong các cơ quan chức năng hãy trả lại sự ưu ái, hỗ trợ xứng đáng, thiết thực, nhanh chóng cho ngành du lịch”, bà Huyền nói như lời khẩn cầu.

Theo bà Huyền, thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động bị ảnh hưởng bởi Covid-19, nhưng những chính sách này chưa thực tế với các doanh nghiệp và người lao động trong ngành du lịch. Đơn cử, chính sách giảm thuế, giãn nợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn chưa hiệu quả. Trong điều kiện dịch bệnh, doanh nghiệp không có doanh thu, thì việc giảm thuế không có ý nghĩa.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp muốn vay vốn, nhưng ngân hàng yêu cầu có hồ sơ chứng minh doanh thu. Như vậy, chẳng khác nào câu chuyện “con gà, quả trứng”. “Khi không có vốn, doanh nghiệp làm sao có thể chuyên tâm phát triển để có doanh thu. Có cảm giác chính sách đang lơ lửng phía trên, doanh nghiệp dường như gần chạm tới, nhưng không thể nắm bắt”, bà Huyền nói.

Trong bối cảnh hiện nay, bà Huyền đề xuất, Chính phủ và các cơ quan chức năng cần có gói tài chính hỗ trợ riêng cho các doanh nghiệp và người lao động ngành du lịch. Điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch vay vốn phải được nới lỏng, có thể nhìn vào lịch sử phát triển của đơn vị đó, thay vì yêu cầu họ cung cấp hồ sơ sẽ làm gì trong tương lai.

“Điều này đòi hỏi phải có một cơ quan đánh giá sự phát triển thương hiệu, sự đóng góp của doanh nghiệp cho ngành du lịch, như đóng thuế chẳng hạn. Từ đó, sàng lọc những doanh nghiệp có thể gây nhũng nhiễu trong quá trình thực hiện chính sách”, bà Huyền đề xuất.

Cùng với doanh nghiệp lữ hành, các khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan, vận chuyển và nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch cũng không phải ngoại lệ. Họ cũng cần được hưởng sự hỗ trợ về chính sách, nhất là tài chính. Ngoài ra, phải nhanh chóng tiếp sức, giữ chân nhân lực trong du lịch. Giới doanh nhân du lịch đang nhìn thấy hiện tượng “chảy máu” chất xám nghiêm trọng khi hơn 90% người lao động ngành này phải chuyển sang làm ở các ngành, nghề khác.

“Nếu không giữ chân được nhân viên, thì khi dịch bệnh được kiểm soát tốt, du lịch phục hồi, liệu ngành kinh tế xanh có còn nhân lực để phục vụ du khách hay không. Trong khi đó, ngoài thời gian đào tạo trong trường lớp, để có một nhân sự tương đối biết việc, doanh nghiệp phải đào tạo thêm khoảng một năm trong thực tế”, bà Huyền phân tích.

Một điều nữa có thể giúp doanh nghiệp du lịch hồi sức trong lúc này là chính sách nới lỏng điều kiện cấp giấy phép kinh doanh lữ hành. Trong khi chỉ phục vụ được thị trường nội địa mà cũng rất bấp bênh, các doanh nghiệp mong được lấy lại tiền ký quỹ kinh doanh lữ hành quốc tế. Đôi khi, sự hồi sinh có thể đến từ những nguồn vốn không phải quá lớn ấy.

Thiếu một “nhạc trưởng”

Các doanh nghiệp cho hay, đã dồn toàn bộ nguồn lực, tâm huyết cho mùa du lịch hè năm 2021 với tất cả hy vọng, vì từ tháng 5 đến tháng 7 là đợt cao điểm đầu tiên của du lịch nội địa. “Trồng cây đến ngày hái quả thì Covid-19 lại ‘băm nát’ những trái chín trên cây”, bà Nguyễn Thị Xuân Lan, CEO Golden Life Travel chua xót.

Nữ doanh nhân cho biết, doanh nghiệp đang được hưởng chính sách giãn nộp thuế 5 tháng và giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp gần như không có ý nghĩa đối với các công ty du lịch, vì kinh doanh thua lỗ thì không có tiền để nộp thuế.

Do đó, bà Lan đề xuất chính sách miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giảm 50% thuế VAT cho các đơn vị du lịch, nhất là các công ty lữ hành. Đồng thời, đề nghị Chính phủ có những chính sách thiết thực hơn nữa đến các lao động ngành du lịch, hỗ trợ doanh nghiệp dễ dàng vay vốn để giữ lực lượng lao động nòng cốt.

Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Tài, CEO VietSense Travel, khi dịch bệnh bùng phát, với những tour buộc phải hoãn, hủy, thì hàng không tạm thời hoàn lại tiền đặt cọc cho các doanh nghiệp lữ hành để trả cọc cho khách hàng. Doanh nghiệp lữ hành đang bị kẹt ở thế “một cổ hai tròng”, nguồn lực cạn kiệt, khách hàng đòi tiền cọc, nhưng hàng không lại không trả cọc ngay.

Bên cạnh đó, Chính phủ cần có cơ chế giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thuận lợi, sát thực tế hơn. “Tình hình dịch bệnh trên thế giới vẫn diễn biến rất phức tạp, đề nghị Chính phủ cho tháo khoán khoản ký quỹ kinh doanh lữ hành quốc tế 500 triệu đồng hoặc có cơ chế, chính sách dùng số tiền đó làm tài sản để đảm bảo cho doanh nghiệp vay lại từ ngân hàng, có nguồn tiền duy trì hoạt động”, ông Tài nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, ông Lương Duy Doanh, CEO FiveStar Travel cho rằng, điều quan trọng nhất hiện nay là làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh để hoạt động du lịch được khởi động trở lại. Vấn đề sống còn của các doanh nghiệp du lịch vẫn là có khách hàng, nếu dịch được kiểm soát tốt, doanh nghiệp sẽ có khách và tồn tại.

“Bên cạnh đó, doanh nghiệp lữ hành, các khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan, vận chuyển và nhà đầu tư vào lĩnh vực du lịch cũng cần được hưởng sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách, nhất là tài chính. Bởi bản chất kinh doanh lữ hành là kết nối các dịch vụ, nếu nhà cung cấp dịch vụ không sống sót thì chúng tôi cũng không thể tồn tại”, ông Doanh bày tỏ.

Theo ông Phạm Hà, một trong những nguyên nhân khiến chính sách từ Chính phủ chưa thiết thực với doanh nghiệp và người lao động ngành công nghiệp không khói là ngành này đang thiếu một “nhạc trưởng”, thiếu tầm nhìn chiến lược lâu dài. “Tôi đã nhiều lần đề xuất thành lập Bộ Du lịch, trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập từ Trung ương xuống địa phương theo mô hình của Thái Lan”, doanh nhân Phạm Hà cho hay.

Nhìn nhận vai trò quan trọng của ngành kinh tế xanh, ngày 16/1/2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tiếp đến, ngày 6/10/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị.

Lúc này, hơn lúc nào hết, cần nhanh chóng chuyển từ Nghị quyết sang hành động cụ thể của Chính phủ, từ Trung ương tới địa phương. Nếu không có những chính sách phù hợp cho cả thị trường nội địa và quốc tế, chắc chắn du lịch Việt Nam sẽ tụt hậu so với các nước trong khu vực…

(Còn tiếp)

.

Nguồn: baodautu.vn



Các doanh nghiệp trông chờ vào những công chức, cơ quan quan lý nhà nước thực sự thấu hiểu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của nền kinh tế, của người dân, doanh nghiệp.



Những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần nhanh hơn, thực tiễn hơn, thấu hiểu hơn, vì lợi ích chung.

Cuối tuần trước, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách đã truyền tay rất nhanh văn bản còn nóng hổi của Tổng cục Đường bộ gửi Bộ Giao thông – Vận tải. Cuối cùng, đề nghị lùi thời hạn lắp camera trên xe ô tô thêm khoảng 1 năm cũng được lắng nghe sau nhiều văn bản đi lại và cách thời hạn phải thực hiện đúng… nửa tháng.

Quyết định chính thức còn phải đợi Bộ Giao thông – Vận tải báo cáo Chính phủ cho phép, song doanh nghiệp có thể thở phào, yên tâm tạm chuyển khoản tiền đang vun vén (khoảng 600-900 triệu đồng với một doanh nghiệp có 100 đầu xe để thay, lắp mới hệ thống camera) sang cho các khoản chi sát sườn khi dịch bệnh hơn 1 năm qua đã bào mòn sức lực của nhiều doanh nghiệp. Nhưng các doanh nghiệp cũng nói, giá như các quyết định này, cũng như các chính sách hỗ trợ được cân nhắc và xem xét sớm hơn, với sự thấu hiểu và thực tế hơn từ các cơ quan quản lý nhà nước, thì doanh nghiệp sẽ bớt đi một phần lo âu để dồn sức vào công việc khác.

Nhìn vào hành trình các đề nghị, khuyến nghị hỗ trợ của doanh nghiệp do tác động của Covid-19 trong hơn một năm qua, có thể thấy, thời gian thường dài, có khi mất vài tháng.     

Lấy ví dụ của năm 2020. Tháng 3/2020, ngay sau khi thông tin dịch bệnh lan rộng ở các nước, bắt đầu ảnh hưởng đến Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với đại dịch Covid-19. Hơn 1 tháng sau, các gói chính sách hỗ trợ lớn được công bố, bao gồm chính sách cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi suất, hỗ trợ tín dụng quy mô 250.000 tỷ đồng; gói chính sách hỗ trợ bảo đảm an sinh xã hội 62.000 tỷ đồng; gói chính sách gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất quy mô 180.000 tỷ đồng; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trả lương cho người lao động 16.000 tỷ đồng…

Tuy nhiên, không nhiều doanh nghiệp tiếp cận được, nhất là gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng và 16.000 tỷ đồng. Liên tục trong các tháng 4-5/2020, các hiệp hội doanh nghiệp có văn bản gửi Chính phủ đề nghị xem xét lại các quy định về tiêu chí, tiêu chuẩn, thủ tục tiếp cận…, nhưng đến tháng 10/2020 mới có những thay đổi.

Hệ quả là, trong cuộc họp thường trực mở rộng của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, phục vụ thẩm tra kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 6 tháng năm 2021 vào cuối tuần trước, các đại biểu đã vô cùng sốt ruột với kết quả khó tin là chính sách hỗ trợ gián tiếp cho doanh nghiệp mới đạt chưa đến 1%, còn hỗ trợ cho người lao động theo hợp đồng phải chấm dứt hợp đồng và một số trường hợp khác cũng chưa đến 1%, chỉ đạt 0,22 đến 0,49%…

Điều này cũng có nghĩa, thời điểm vàng để hỗ trợ nhiều doanh nghiệp bị tác động của các đợt dịch Covid-19 năm 2020 đã bị bỏ lỡ, cũng có nghĩa, nguồn lực để nền kinh tế nhanh chóng hồi phục và phát triển đã hao hụt đôi phần.

Đợt dịch lần thứ tư này, tình hình cấp bách hơn nhiều, đòi hỏi những chính sách hỗ trợ nhanh hơn, thực tiễn hơn, thấu hiểu hơn, vì lợi ích chung.

Tất nhiên, doanh nghiệp cũng hiểu, các cơ quan quản lý nhà nước không dễ có những quyết định ngay và nhanh như doanh nghiệp, nhất là với những quy trình, thủ tục hành chính nhiều tầng nấc, những yêu cầu đánh giá tác động của các văn bản mỗi lần sửa đổi hay làm mới… cần phải tuân thủ. Song, khi nền kinh tế đang trong giai đoạn “bình thường mới” với những thay đổi không lường do dịch bệnh, cần những chính sách hỗ trợ, cách làm có thể chưa từng có tiền lệ, thì quy trình bình thường rất có thể lại là lực cản.

Trở lại câu chuyện của doanh nghiệp kinh doanh vận tải, trong những văn bản gửi các cơ quản lý nhà nước cuối năm ngoái, doanh nghiệp trong ngành nay đều khẳng định, nhất trí với chủ trương của Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn thông qua triển khai lắp đặt camera trên xe ô tô kinh doanh vận tải, nhưng họ đã lường trước những khó khăn và mong được trợ giúp trực tiếp.

Lúc này, doanh nghiệp nói họ trông chờ vào những công chức, cơ quan quan lý nhà nước thực sự thấu hiểu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của nền kinh tế, của người dân, doanh nghiệp.

Bài viết triển khai thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ về các nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất – kinh doanh, thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, đảm bảo trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh dịch Covid-19.

Xem thêm nội dung TẠI ĐÂY!



Nguồn: baodautu.vn



Cần giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, thay vì hỗ trợ cầm cự

TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đề xuất các giải pháp hỗ trợ phục hồi, phát triển, thay vì hỗ trợ thanh khoản cho doanh nghiệp.



TS. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Thưa ông, đợt bùng dịch Covid-19 lần thứ tư đang rất phức tạp. Sức khỏe doanh nghiệp trong nhiều ngành, lĩnh vực rơi vào trạng thái bấp bênh và họ đang nói nhiều về các gói hỗ trợ mới…

Năm ngoái, khi Covid-19 xuất hiện, Chính phủ đã có các gói chính sách hỗ trợ, từ giãn thời gian nộp các loại thuế, giãn thời gian trả nợ vay, đến hỗ trợ doanh nghiệp giữ lao động… Mục tiêu là hỗ trợ thanh khoản cho doanh nghiệp vào thời điểm dòng tiền bị đứt gãy.

Hiện tại, Chính phủ cũng đã có chính sách tiếp tục gia hạn nộp thuế, tiền thuê đất năm 2021, quy định mới về những khoản chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp…

Tuy nhiên, quan điểm của tôi là không thể tiếp tục cách thức hỗ trợ thanh khoản cho doanh nghiệp như lần đầu tiên, mà cần một giải pháp dài hơi hơn, đặt mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, hỗ trợ phát triển…

Nhưng thực tế, doanh nghiệp vẫn rất khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã phải ngừng hoạt động, cho lao động nghỉ việc?

Sau một năm chịu tác động của Covid-19, tình hình doanh nghiệp rất khác.

Nhiều doanh nghiệp đã không thể trụ được, phải giảm số lao động, thậm chí đã đóng cửa hoặc chuyển sang ngành nghề kinh doanh khác. Thực tế buộc các doanh nghiệp phải thay đổi, cơ cấu lại hoạt động, chiến lược kinh doanh, bộ máy tổ chức…

Người lao động cũng vậy, cũng không ngồi nhà nhận tiền hỗ trợ và chờ quay trở lại công việc như năm ngoái, vì họ đã thấy tình thế, phải tìm kiếm việc làm mới.

Trong tình hình như vậy, việc đề xuất, xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cũng cần phải thay đổi.

Cụ thể, tập hợp các giải pháp chính sách lần này nên tập trung vào những nội dung gì?

Thứ nhất, hỗ trợ, khuyến khích đầu tư. Để làm được việc này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có vai trò lớn trong việc rà soát, đề xuất các giải pháp mới phù hợp. Cần xem lại các ngành nghề kinh doanh đang được khuyến khích đầu tư, như chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, mô hình kinh doanh mới…, có vướng mắc gì trong thực thi chính sách không, có cần thêm chính sách khuyến khích gì không… để có phương án trình Chính phủ, trình Quốc hội bổ sung.

Mục tiêu là thúc đẩy tối đa các hoạt động đầu tư này để tạo năng lực mới cho nền kinh tế, tạo ra động lực chuyển đổi cơ cấu theo mục tiêu mà nền kinh tế đang cần. Các nút thắt trong thủ tục đầu tư cũng phải được gỡ quyết liệt.

Thứ hai, đây chưa phải là lúc khuyến khích đầu tư, kinh doanh ở vùng sâu, vùng xa. Nên tập trung chính sách để thúc đẩy, hỗ trợ các trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng. Đây sẽ là nơi cần hỗ trợ để thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng vào thời điểm này, khi các doanh nghiệp được đặt trong bối cảnh phải cơ cấu lại, xem xét lại chiến lược kinh doanh.

Hỗ trợ, khuyến khích đầu tư nhằm vào những đối tượng, khu vực đang tạo nên những dư địa tăng trưởng mới cho nền kinh tế, chứ không phải là hỗ trợ chung chung.

Thứ ba, cải thiện môi trường kinh doanh, cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp vẫn phải đặt ưu tiên và cần có giải pháp quyết liệt trong hành động. Việc này có thể làm được ngay, có tác động trực tiếp ngay, nếu thực sự hành động.

Quan điểm của tôi là cần hỗ trợ các kế hoạch kinh doanh, đầu tư hiện hữu, khả thi của doanh nghiệp, hỗ trợ phần cung, chứ không đơn thuần là hỗ trợ thanh khoản, hỗ trợ cầu như các gói chính sách năm ngoái.

Nếu có gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua ảnh hưởng của Covid-19, thì mục tiêu là hỗ trợ phục hồi, chứ không hỗ trợ cầm cự.

Ngân hàng Nhà nước vừa có yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt mức độ tập trung tín dụng vào một số khách hàng, nhóm khách hàng, trong đó có các dự án đầu tư, kinh doanh bất động sản. Quan điểm của ông về động thái này, khi việc đó có thể ảnh hưởng đến cơ hội phục hồi của nhiều ngành, lĩnh vực liên quan?

Quan điểm của tôi là cần thiết. Đang có những tín hiệu cho thấy tỷ lệ tín dụng vào lĩnh vực này ở mức quá cao, có thể gây rủi ro.

Tất nhiên, các dự án bất động sản đang được triển khai xây dựng, những người đang có nhu cầu mua nhà thực là đối tượng được hỗ trợ để thực hiện. Các tổ chức tín dụng có đủ năng lực để đánh giá khách hàng của mình.

Ở đây, cũng phải nhắc lại yêu cầu gỡ các nút thắt trong hoạt động đầu tư – xây dựng, để các dự án thực sự thuận lợi trong triển khai.

Còn yêu cầu thận trọng, siết tín dụng vào bất động sản là với các hoạt động có yếu tố đầu cơ, găm giữ đất đai, tìm kiếm địa tô. Trong bối cảnh này, tiền cần phải được dành để đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thực sự.



Nguồn: baodautu.vn



Gánh chịu nặng nề từ Covid-19, phải có ngay chính sách mà doanh nghiệp thực sự cần

Doanh nghiệp đang ở đỉnh điểm của khó khăn, sau một năm gánh chịu những tác động nặng nề từ Covid-19, ở diện rộng. Việc có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết.

Khuyến nghị với các bộ, ngành về các gói chính sách bổ sung để hỗ trợ doanh nghiệp bị tác động bởi Covid-19, ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, câu hỏi khó nhất mà các gói chính sách phải trả lời là doanh nghiệp có tiếp cận được, có thực sự cần chính sách đó vào lúc này không.



 Ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ.

Thưa ông, giới kinh doanh đang tiếp tục khuyến nghị Chính phủ về các gói hỗ trợ mới, giúp doanh nghiệp vượt qua những tác động nặng nề của dịch bệnh. Ông nghĩ thế nào về điều này?

Trước hết, phải thấy rõ, doanh nghiệp đang ở đỉnh điểm của khó khăn, sau một năm gánh chịu những tác động nặng nề từ Covid-19, ở diện rộng. Việc có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp là cần thiết.

Nhưng, từ bài học trong thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp năm 2020, chúng tôi cho rằng, các bộ, ngành cần phải làm nhiều việc hơn, để trả lời được các câu hỏi cụ thể.

Ví dụ, năm 2020, ngành nào thiệt hại nặng nhất vì Covid-19; ngành, lĩnh vực nào cần hỗ trợ, hỗ trợ thế nào, các doanh nghiệp trong ngành đó đang gặp khó khăn gì, cần hỗ trợ gì…

Ví dụ, chúng ta thấy rõ, du lịch vô cùng khó khăn, đi kèm theo đó là nhà hàng, khách sạn, các dịch vụ vận chuyển, thương mại… Phương án hỗ trợ là gì? Tiền thì chắc là khó, vì ngân sách có hạn, nhưng còn cơ chế, cụ thể là những gì, vì sự đa đạng của các hoạt động đòi hỏi các cơ chế, chính sách phải cụ thể và tương thích với đặc thù của từng ngành, lĩnh vực.

Tôi chia sẻ khó khăn của các bộ, ngành trong việc đề xuất, xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng đây là việc phải làm và phải làm nhanh, ít nhất trong tháng 3 này phải hoàn tất để trình Chính phủ, trình Quốc hội tại kỳ họp sắp tới với các đề xuất, chính sách vượt thẩm quyền của Chính phủ…

Đơn cử, về chính sách hỗ trợ ngành du lịch, theo ông, có thể cân nhắc những phương án gì? “Hộ chiếu vắc-xin” mà doanh nghiệp, chuyên gia trong ngành du lịch đang đề xuất có thể được xem xét vào lúc này chưa, thưa ông?

Phải thấy rất rõ, khi nói đến du lịch là nói đến một chuỗi ngành, lĩnh vực đi kèm như tôi đã nhắc đến, nên du lịch có khách, sẽ tạo đầu vào cho vận chuyển, nhà hàng, khách sạn, thương mại… đang dư cung, tạo việc làm cho hàng triệu lao động. Khi đó, nhu cầu tiêu dùng mới trở lại, thúc đẩy sản xuất ổn định. Nếu chúng ta có thể mở cửa đón khách vào mùa du lịch hè và cuối năm 2021, thì rất có thể ngành này sẽ khôi phục được khoảng 80% doanh số của năm 2019.

Phải nhắc lại, du lịch – dịch vụ đang đóng góp 10% GDP. Nếu du lịch – dịch vụ hoạt động trở lại sớm, sẽ góp phần vào thực hiện kế hoạch tăng trưởng của Việt Nam trong năm nay, nhưng quan trọng hơn là tạo việc làm cho người lao động…

Nhưng câu hỏi là chúng ta đã sẵn sàng mở cửa chưa, thưa ông?

Tôi lại muốn đặt vấn đề là, chúng ta sẽ hành động thế nào trong bối cảnh nhiều nền kinh tế đang thúc đẩy kế hoạch hoàn tất tiêm vắc-xin ngừa Covid-19 cho người dân vào quý II/2021 và có thể mở cửa vào quý III/2021? Quan điểm của tôi là cần lên các phương án sớm, để tùy theo tình hình thực tế có thể triển khai ngay.

Đặc biệt, Tổ Tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ có đề nghị phương án xã hội hóa vắc-xin, để các doanh nghiệp, địa phương có thể chủ động nhập khẩu vắc-xin phục vụ nhu cầu của ngành, địa phương; nguồn vắc-xin từ ngân sách sẽ dành cho các đối tượng ưu tiên. Việc này thuộc thẩm quyền của Chính phủ, có thể thực hiện được ngay.

Nếu các cơ sở lưu trú, những người hoạt động trong ngành du lịch, vận chuyển khách… được tiêm vắc-xin sớm bằng nguồn vắc-xin xã hội hóa, phương án mở cửa du lịch với “hộ chiếu vắc-xin” là khả thi.

Lúc này, chúng ta phải tận dụng mọi nguồn lực, Chính phủ không thể lo hết được, nhưng cần thực hiện vai trò điều phối rõ ràng.

Một cách khái quát, theo ông, các gói giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp tới đây cần lưu tâm những điểm gì?

Tôi muốn chia sẻ thông điệp mà các doanh nghiệp đã chia sẻ tại cuộc Đối thoại 2045 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì đầu tháng 3 năm nay.

Thứ nhất, các doanh nghiệp tự tin về khả năng vượt qua khó khăn.

Thứ hai, họ cần sự minh bạch và kịp thời trong các chính sách, để doanh nghiệp không bị chậm chân trước các cơ hội mới.

Như vậy, các bộ, ngành cũng cần đánh giá, xem xét những điều kiện mới, đề xuất các phương án phù hợp và quan trọng là không bỏ lỡ cơ hội mới cũng như không bị chậm chân khi các nền kinh tế trong khu vực đã có kịch bản mở cửa trở lại rất cụ thể.



Nguồn: baodautu.vn



Tại sao có những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp được hào hứng đón nhận, nhanh chóng hưởng lợi, tạo hiệu ứng lan tỏa, trong khi vẫn còn những chính sách chỉ vài chục phần trăm doanh nghiệp được nhận?

Tại sao có những giải pháp cứu trợ doanh nghiệp mà chỉ cần đọc các điều kiện, doanh nghiệp hiểu ngay họ không có cơ hội nào?

Tại sao có những địa phương, doanh nghiệp tiếp cận thông tin về các gói chính sách nhanh, kịp thời, trong khi có nơi, doanh nghiệp luôn cảm thấy không an tâm khi làm việc với cơ quan công quyền?…

Hàng loạt câu hỏi đã được các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp đặt ra trong các cuộc làm việc liên tục với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong hai ngày đầu tuần, để bàn về chính sách hỗ trợ bổ sung cho doanh nghiệp gặp khó khăn cho đại dịch Covid-19.

Có lẽ, chưa bao giờ, mong muốn của doanh nghiệp về việc chuyển lửa cải cách từ Chính phủ, các bộ ngành đến các cấp thực thi lại cấp bách như lúc này.

Có thể thấy rõ, thời điểm này, mong muốn có được những cơ chế, chính sách đi vào cuộc sống, phù hợp với đời sống thực tiễn, hoạt động của doanh nghiệp, để kịp thời hỗ trợ hoạt động đầu tư, kinh doanh đang là mong mỏi lớn nhất của cộng đồng doanh nghiệp.

Một cách thẳng thắn, sau một năm giông bão với những tác động bất thường, khó dự đoán bởi Covid-19, những doanh nghiệp còn nhiệt tình tham gia nghiên cứu, gửi các đề xuất đóng góp chính sách có thể coi là những doanh nghiệp kiên cường, có năng lực chống chịu và khả năng linh hoạt cao. Quan trọng hơn, nhiều doanh nghiệp trong số đó đang đứng trước những cơ hội được cho là hiếm có để phục hồi, vượt lên.

Nhiều doanh nghiệp điện tử đã nhắc đến cơ hội tăng trưởng do nhu cầu thiết bị điện tử phục vụ làm việc tại nhà tăng đột biến. Có doanh nghiệp trong ngành công nghiệp phụ trợ kể về hợp đồng “bỗng nhiên xuất hiện” khi gần như cả thế giới bị phong tỏa, chỉ một vài địa điểm như Việt Nam còn sản xuất. Hay những đơn hàng nông sản, thủy sản, dệt may… từ các thị trường lớn vẫn tiếp tục được duy trì và có dấu hiệu tăng nhanh trở lại…

Đặc biệt, sự chuyển dịch của dòng vốn FDI, các hoạt động cơ cấu lại chuỗi giá trị sản xuất, thương mại toàn cầu đang mở ra cho doanh nghiệp Việt Nam những cơ hội mà với giai đoạn bình thường cũ sẽ chưa thể nhắc đến trong vài chục năm tới.

Song, doanh nghiệp liệu có tiếp nhận được đầy đủ và bền vững các cơ hội đó hay không lại là câu hỏi rất lớn. Và không ít doanh nghiệp đã trả lời là không.

Nguyên nhân có nhiều, không mới, một phần do quy mô nhỏ và vừa, nhân lực và công nghệ chưa đủ đáp ứng ngay các hợp đồng lớn, đòi hỏi tiến độ, chất lượng cao.

Để giải được bài toán này, để nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam, cần chính sách dài hạn và bao trùm, từ hệ thống luật pháp đồng bộ, thúc đẩy kinh doanh an toàn, công bằng, thúc đẩy đầu tư đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số… Sẽ không thể có được các chính sách này trong ngày một ngày hai.

Nhưng ngay cả khi các đối tác chấp nhận làm ăn với doanh nghiệp Việt Nam vào thời điểm hiện tại, thì những khó khăn trong tiếp cận tín dụng, lãi suất cho vay vẫn cao, cộng với chi phí sản xuất gia tăng trong thời dịch dịch bệnh… khiến nhiều doanh nghiệp ngần ngại bước sâu hơn vào cuộc chơi lớn. Đặc biệt, nhiều doanh nghiệp nhắc đến sự vô cảm của không ít công chức thực thi.

Có doanh nghiệp đã đặt câu hỏi rằng, tại sao trong lúc doanh nghiệp khó khăn, gồng mình chống chịu với dịch bệnh, với đứt gãy thị trường, thì đa phần địa phương mới chỉ lo trách nhiệm phòng chống dịch, mà không nhìn thấy hàng tắc ứ ở cảng, trên đường? Tại sao các khoản doanh nghiệp phải nộp nhưng chưa dùng đến, như bảo hiểm xã hội, phí công đoàn… không thể giãn, giảm mạnh, để doanh nghiệp có khoản tiền lưu thông, ít nhất là trả lương nhằm giữ người lao động? Tại sao các khoản phí hạ tầng cảng doanh nghiệp kêu ca là trùng lắp mãi vẫn chưa được Hải Phòng xem xét bãi bỏ thì tới đây TP.HCM lại thu?…

Hệ lụy của các câu hỏi tại sao này là chi phí sản xuất sẽ đội lên, đổ vào giá thành và đương nhiên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt sẽ bị đẩy xuống. Điều này cũng có nghĩa, nếu việc xây dựng, thực thi chính sách được xem xét, đánh giá sát với thực tiễn, phù hợp với tình hình và tư duy thấu hiểu của công chức, thì cơ hội để doanh nghiệp phục hồi sẽ tới. Hơn thế, mong muốn, khát vọng vươn lên giành vị trí mới trong chuỗi giá trị sản xuất của cộng đồng doanh nghiệp Việt cũng được hậu thuẫn thêm.

Có lẽ, chưa bao giờ, mong muốn của doanh nghiệp về việc chuyển lửa cải cách từ Chính phủ, các bộ ngành đến các cấp thực thi lại cấp bách như lúc này. Và cũng chưa bao giờ, đòi hỏi được thấu hiểu, được các cơ quan quản lý nhà nước, công chức nhà nước chia sẻ của doanh nghiệp lại lớn như hiện nay.

.

Nguồn: baodautu.vn